Khái niệm và vốn từ vựng mô tả thiết bị âm thanh karaoke
Một trong những khó khăn nhất của nghe thẩm định là tìm ra ngôn ngữ phù hợp để mô tả những cảm nhận và trải nghiệm trong quá trình nghe. Vốn từ mô tả những phẩm chất âm thanh không chỉ cần thiết trong việc truyền đạt lại những gì nghe được cho người khác mà còn giúp người chơi tự ghi nhận và thấu hiểu với những trải nghiệm của bản thân. Bài viết này đề cập đến những khái niệm và vốn từ vựng dùng để mô tả phẩm chất âm thanh của thiết bị karaoke.
Trước khi mô tả từng khái niệm cụ thể, chúng tôi muốn độc giả nắm được hệ thống thuật ngữ dùng để mô tả dải tần âm thanh. Dải tần số âm thanh mà tai người nghe thấy trải dài từ 16Hz đến 20kHz, có thể chia thành một số vùng cụ thể.
Sự cân bằng về giọng nói
Khía cạnh đầu tiên trong màn trình diễn âm nhạc của mỗi thiết bị mà người nghe cần lưu tâm là sự cân bằng về chất giọng, sự hài hòa cân bằng giữa âm bass, mid hay treble của thiết bị đạt đến mức nào. Nếu âm thanh có xu hướng nhiều treble, có thể là thiết bị thiên sáng. Nếu âm bass lấn át các dải khác, thiết bị đó coi như có chất tiếng nặng. Ngược lại, nếu có quá ít âm bass, có thể coi thiết bị đó mỏng tiếng, nhẹ bass hoặc thiên cao. Sự cân bằng về giọng của thiết bị audio đặc biệt có ý nghĩa, thường ảnh hưởng đến âm điệu của nó.

Âm hình
Thuật ngữ âm hình mô tả khoảng cách hiện hữu giữa người nghe và âm nhạc. Âm hình chủ yếu thể hiện khoảng cách giữa người trình diễn với micro. Tuy nhiên, nó cũng chịu ảnh hưởng của các thiết bị tái tạo trong hệ thống. Một số thiết bị khiến màn hình trình diễn như vậy được đẩy lên phía trước, hướng đến người nghe. Trong khi đó, một số thiết bị khác lại có xu hướng kéo lùi sân khấu lại phía sau. Thiết bị có âm hình tiến thể hiện âm nhạc ở phía trước cặp loa, sản phẩm có âm hình lùi thể hiện âm nhạc hơi lùi về phía loa.
Một sô thuật ngữ khác cũng được sử dụng để mô tả âm hình. Ví như từ khô thường dùng để mô tả âm thanh thiếu độ vang và không gian, nhưng cũng có thể hiểu được nếu ám chỉ âm hình hơi tiến. Một số cụm từ khác có thể dùng để mô tả âm hình tiến như: trực tiếp, sắc tiếng, tấn công, chói lọi…. Một số thuật ngữ đi kèm âm hình lùi thường được dùng như: dịu, nhẹ nhàng….
Tiếng treble
Tiếng treble hay là yếu tố không thể thiếu trong hệ thống tái tạo âm nhạc chất lượng cao. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều sản phẩm audio xuất sắc lại không thể thỏa mãn yêu cầu về nhạc tính bởi sự yếu kém trong phần trình diễn tiếng treble.
Những đặc tính của tiếng treble mà người chơi audio muốn tránh được thể hiện qua những thuật ngữ như: sáng, rối, sắc, khô, chói, đanh, rít,…
Thiết bị karaoke có tiếng treble với những đặc điểm trên thường khiến người nghe cảm thấy không thoải mái trong quá trình nghe nhạc. Khi đó, người nghe có cảm giác như tiếng treble không hòa nhập với màn hòa âm tổng thể của bản nhạc, mà tách rời “một mình một điệu”. Trong trường hợp này, người nghe sẽ nhận biết tiếng treble như một thực thể riêng biệt mà không còn là yếu tố cấu thành nên âm nhạc.
Những thuật ngữ được liệt kê sau đây thường dùng để mô tả tiếng treble hay như: ngọt, êm, mịn, nhẹ,… khi tiếng treble trở nên quá mượt, người ta thường sử dụng từ ướt át để chỉ âm thanh của thiết bị.
Những thiết bị có chất tiếng đơn điệu, chậm, dày, hẹp và chi tiết thường có tiếng treble vượt quá mức mượt mà cần thiết. Một số thiết bị lại khiến màn trình diễn âm nhạc thiếu sức sống, không gian, độ mở, sự dàn trải nếu tiếng treble quá mềm. Khi đó, âm nhạc chỉ được tái tạo trong phạm vi hẹp, thiếu độ mở và độ lớn.
Không gian của quãng tám cao nhất thể hiện sự không giới hạn trong độ mở của tiếng treble, khiến người nghe như thấy được lớp không khí bao xung quanh mỗi âm thanh nghe thấy từ nhạc cụ và giọng hát. Những hệ thống không tái tạo được quãng tám cao nhất thường không thể hiện được độ chi tiết của không gian âm nhạc.
Tiếng treble của loa karaoke tốt hay nhất giống với âm nhạc thực chất. Để đạt được điều này, tiếng treble phải giàu năng lượng. Âm thanh tái tạo chỉ được gọi là thành công khi loại bỏ những âm thanh mà trong nhạc sống không có. Hơn thế, tiếng treble phải là yếu tố cấu thành và hài hòa với tổng thể âm nhạc chứ không phải là tiếng ồn ở dải tần cao khiến người nghe khó chịu.


